Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

Công nghiệp 4.0 là gì?

Công nghiệp 4.0 là sự chuyển đổi vật lý không gian mạng của sản xuất. Tên này được lấy cảm hứng từ Công nghiệp 4.0 của Đức, một sáng kiến ​​của chính phủ nhằm thúc đẩy sản xuất được kết nối và hội tụ kỹ thuật số giữa ngành công nghiệp, doanh nghiệp và các quy trình khác.

Công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư, mặc dù có sự bất đồng về cách xác định các cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã diễn ra vào cuối của 18 thứ thế kỷ và được đánh dấu bằng cơ giới hóa được thực hiện bằng hơi nước và điện nước. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai, diễn ra vào lúc bắt đầu của 20 thứ thế kỷ, được hỗ trợ bởi điện và đánh dấu bằng sản xuất hàng loạt, dây chuyền lắp ráp, và phân công lao động. Thứ ba, vào khoảng đầu những năm 1970, thông qua việc sử dụng máy tính để tự động hóa hơn nữa máy móc và quy trình sản xuất.

Tầm nhìn của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ dẫn đến nhà máy thông minh và tận dụng triệt để sản xuất kỹ thuật số . Hiện tại trong giai đoạn trứng nước và bắt đầu diễn ra theo những cách riêng biệt, hình thức hoàn toàn kết nối và rộng lớn của nó vẫn là một tầm nhìn cho tương lai. Nó được dự kiến ​​sẽ là một số hóa biến đổi, từ đầu đến cuối của lĩnh vực sản xuất. Trong tầm nhìn của Công nghiệp 4.0, một hệ sinh thái của các máy móc và đối tác có thể tương tác hoàn toàn sẽ được hiện thực hóa trong chuỗi cung ứng và dữ liệu sẽ thông báo và điều chỉnh quá trình hành động.

Trình điều khiển của Công nghiệp 4.0

Công nghiệp 4.0 được thúc đẩy bởi sự hội tụ của các công nghệ, bao gồm:

  • Internet công nghiệp của sự vật ( IIoT ) và việc sử dụng rộng rãi các cảm biến .
  • Dữ liệu lớn và phân tích.
  • Trí tuệ nhân tạo ( AI ) và máy học.
  • LPWAN cho mạng máy-to-machine ( M2M ) và Internet of Things ( IoT ).
  • Hội tụ CNTT / OT .
  • Giao diện cảm ứng và giọng nói và hệ thống thực tế tăng cường ( AR ).
  • Robot tiên tiến.
  • Sản xuất phụ gia .

Về cơ bản, tất cả các công nghệ mới và đang phát triển được tạo ra để con người giao tiếp với máy móc, cho máy móc giao tiếp với nhau và để đạt được các mục tiêu phức tạp hơn và để dữ liệu thông báo và tối ưu hóa tất cả các quy trình liên quan đến lĩnh vực sản xuất sẽ kết nối các quy trình sản xuất từ thiết kế đến hết vòng đời sản phẩm.   

Lợi ích của công nghiệp 4.0

Công nghiệp 4.0 có khả năng cung cấp nhiều lợi ích. Analytics sẽ tăng tốc độ phát triển sản phẩm và sau đó cho các OEM thấy khách hàng thực sự sử dụng sản phẩm như thế nào so với cách sử dụng sản phẩm đó. Dữ liệu từ các cảm biến sẽ chỉ ra các cách để tối ưu hóa sản xuất, cung cấp các cập nhật trạng thái liên tục sẽ được so sánh với một bộ đôi kỹ thuật số (mô phỏng chạy với hiệu quả hoàn hảo) để cung cấp thông tin chính xác và cảnh báo bảo trì dự đoán. Sản xuất phụ gia sẽ làm cho sản xuất nhỏ rất linh hoạt hoặc nhỏ. Thực tế mở rộng sẽ thúc đẩy hiệu quả và học tập, trong khi máy móc sẽ giúp những người có nhiệm vụ không an toàn hoặc phức tạp và trở nên tự chủ hơn. Một số trong những tiến bộ này đã xảy ra ở quy mô nhỏ hơn.

Mục tiêu bao quát hay toàn diện hơn của tầm nhìn Công nghiệp 4.0 là chuyển đổi ngành sản xuất và tất cả các ngành liên quan của nó, từ thiết kế đến hậu cần đến vòng đời sản phẩm thành một nỗ lực đáp ứng khách hàng hiệu quả và sáng tạo hơn, với các mô hình kinh doanh mới và tiếp thị nguồn thu. Nó cũng dự kiến ​​sẽ biến đổi các thành phố và tiện ích.

Mặc dù một số công ty đang dẫn đầu với các ví dụ riêng biệt cho thấy tiềm năng của Công nghiệp 4.0, nhiều công ty dự kiến ​​sẽ phải vật lộn, đặc biệt là do chi phí của công nghệ mới nổi. Khả năng tương tác là một mối quan tâm khác, với các đối tác trên toàn chuỗi cung ứng đang cố gắng chia sẻ dữ liệu một cách liền mạch. Ngoài ra, các tiêu chuẩn và bảo mật dự kiến ​​sẽ nhận được sự chú ý lớn khi các ứng dụng Công nghiệp 4.0 phổ biến và các nền tảng phát triển.

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Súc vật quyền

Súc vật quyền

Súc vật quyền(tiếng Anh: animal rights) chỉ quy định mới đã được thông qua ngày 11/12/2018 trong luật chăn nuôi với những điều lệ mang tính nhân văn như không được đánh đập gia súc, không cho gia súc thấy cảnh đồng loại bị làm thịt,... Đây là một cuộc cánh mạng đáng ghi nhận cho những trái tim thấu hiểu tâm tư và nguyện vọng của súc vật bên cạnh đó thể hiện được niềm yêu thượng động vật vô bờ bến và đạo đức tốt đẹp của con người.

Không còn nghi ngờ gì nữa, với quy định mới này Việt Nam không chỉ là thiên đường của công nghiệp mà còn là thiên đường của súc vật.

Tóm tắt một số nội dung chính

Tổ chức, cá nhân có hoạt động chăn nuôi không được đánh đập, hành hạ vật nuôi (trâu, bò, lợn, dê…); phải có chuồng trại, không gian phù hợp với vật nuôi; cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống bảo đảm vệ sinh cho vật nuôi; phòng bệnh và trị bệnh theo quy định của pháp luật về thú y cho vật nuôi.

Luật cũng quy định bắt buộc, khi giết mổ vật nuôi phải hạn chế gây sợ hãi, đau đớn cho vật nuôi; không đánh đập, hành hạ vật nuôi. Phải có biện pháp gây ngất vật nuôi trước khi giết mổ; không để vật nuôi chứng kiến cảnh đồng loại bị giết mổ.

Luật Chăn nuôi 2018 cũng quy định về việc đối xử nhân đạo với vật nuôi trong vận chuyển.

Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Chăn nuôi 2018 có hiệu lực thi hành.

Theo quy định đối xử nhân đạo với vật nuôi tại điều 69 của Luật Chăn nuôi thì tổ chức, cá nhân có hoạt động chăn nuôi phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

  • Có chuồng trại, không gian chăn nuôi phù hợp với vật nuôi;
  • Cung cấp đủ thức ăn, nước uống bảo đảm vệ sinh;
  • Phòng bệnh và trị bệnh theo quy định của pháp luật về thú y;
  • Không đánh đập, hành hạ vật nuôi

Điều 71 quy định:

Cơ sở giết mổ vật nuôi phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

  • Có nơi lưu giữ vật nuôi bảo đảm vệ sinh; cung cấp nước uống phù hợp với vật nuôi trong thời gian chờ giết mổ;
  • Hạn chế gây sợ hãi, đau đớn cho vật nuôi; không đánh đập, hành hạ vật nuôi;
  • Có biện pháp gây ngất vật nuôi trước khi giết mổ; không để vật nuôi chứng kiến đồng loại bị giết mổ.

Virus lạ

Virus lạ

Virus lạ chỉ những loại virus chưa có tên khoa học, trước khi bộc phát thì chưa từng xuất hiện trên thế giới hoặc cũng có thể là sự giấu diếm của truyền thông.

Tại Việt Nam hiện đã phát hiện nhiều trường hợp tử vong do virus lạ như cố chủ tịch nước Trần Đại Quang, chủ tịch UBND Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh,...đem đến niềm tiếc thương sâu sắc cho người dân Việt Nam. Và theo giới truyền thông hiện tại chưa phát hiện ra trường hợp nào nhiễm virus lạ nào là người dân vì vậy người dân yên tâm không cần lo lắng, hoang mang như tàu lạ

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

Tàu lạ là gì?

Tàu lạ

Tàu lạ hay "tàu nước ngoài" là một danh từ khá phổ biến được báo đài Việt Nam sử dụng khi đưa tin các sự kiện xảy ra ở biển Đông. Ở đây tàu lạ chỉ một loại tàu chưa rõ xuất xứ, có thể là tàu của người ngoài hành tinh(UFO) nhưng cũng có nguồn tin cho rằng đó là tàu quân sự của Trung Quốc ngụy trang thành tàu cá,... Nói chung, mục đích của tàu lạ chủ yếu là cướp của, phá hại tài sản, đe dọa tính mạng ngư dân,... cuối cùng phục vụ cho một mưu lược thâm sâu nào đó. Nhưng rất tiếc chính quyền có đội ngũ CA tinh nhuệ nhất thế giới vẫn không thể điều tra được tàu lạ là "tàu của ai" để xử lí theo pháp luật, vì vậy ngư dân Việt Nam lại phải ra khơi kiếm sống trong chông gai và đầy rẫy lo ngại, nguy hiểm. Cũng như virus lạ, tàu lạ khiến dân tình hoang mang.

Bò đỏ là ai?

Bò đỏ

Bò đỏ chỉ một nhóm người hiện chưa có số lượng xác định thường xuất hiện trên mạng xã hội Facebook, Youtube. Danh từ này xuất hiện tại Việt Nam vào cuối thập niên 10 của thế kỉ 21 để gọi chung một bộ phận có tính cách kỳ quái, não bộ rối loạn, đạo đức suy đồi,... Nghiên cứu chỉ ra rằng "Bò đỏ" được phát hiện nhiều nhất ở lứa tuổi đang dậy thì khi cơ thể có sự thay đổi lớn, chưa ổn định về mặt tâm sinh lý, trí tuệ còn bị kìm hãm. Trong quá trình sống, nếu bò đỏ được giáo dục tốt, được tiếp xúc với tri thức văn minh thì tự khắc sẽ trở thành người bình thường.

Dấu hiệu nhận biết bò đỏ

Chửi là dấu hiệu dễ nhận biết nhất để chúng ta có thể phát hiện bò đỏ, nhóm người này chửi bất chấp, bất cần đời,... nói chung niềm yêu thích của đa số bò đỏ là chửi dù đúng dù sai.

Kém hiểu biết là dấu hiệu thứ hai và cũng rất dễ nhận biết trong tranh luận, vì trí tuệ bị kìm hãm lâu năm nên dường như đa số bò đỏ có trí tuệ giới hạn so với người thường.

Niềm tin mù quáng: Tất cả bò đỏ đều có một niềm tin mù quáng vào một "thực thể mục nát" và luôn bị dắt mũi bởi các DLV.

Ngụy biện: Trong tranh luận, nhóm người này thường mắc rất nhiều lỗi ngụy biện.

...

Cách tránh sát thương từ bò đỏ

Tuy ít làm tổn hại đến danh dự và thân thể nhưng bò đỏ có thể gây ra những cơn đau đầu và chán nản cấp tính, sau đây là một số cách phòng tránh:

  • Tốt nhất là không nên tranh luận, người thông minh không bao giờ đi cãi nhau với kẻ dốt nát, và thực tế chứng minh chúng ta đa phần đều thua mà không nhận lại được bất cứ điều gì.
  • Xuống nước: Trong khi tranh luận nếu phát hiện những dấu hiệu trên thì hãy lảng tránh đi chỗ khác.
Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

Đỗ Ngà là ai?

Đỗ Ngà

Đỗ Ngà sinh năm 1977 là một nhân vật phản biện xã hội với vô số bài đánh giá, phân tích, lên án thực trạng xã hội Việt Nam trên Facebook[1].

Bài viết hay của Đỗ Ngà

TẬP ĐOÀN KINH TẾ LÀM NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ - NƯỚC CỜ HIỂM CỦA TRUNG CỘNG

Thử tưởng tượng, nếu loại bỏ Toyota, Honda, Misubishi, Sony, Fujitsu vv..mà bị loại ra khỏi đất nước thì kinh tế nước Nhật thế nào? Nước Nhật sẽ không còn là cường quốc kinh tế nữa. Những tập đoàn kinh tế có một sức mạnh rất lớn, nó có thể tác động làm bộ máy chính quyền thay đổi. Nếu các tập đoàn kinh tế ấy mà làm nhiệm vụ chính trị cho chính quyền thì sao? Rất nguy hiểm.

Với Trung Quốc, họ có tham vọng rất mạnh. Họ muốn những tập đoàn kinh tế lớn phải là của họ. Chính họ chi phối những tập đoàn lớn chứ không phải ngược lại. Trong những tập đoàn kinh tế, chính quyền Trung Cộng đã đào tạo ra những CEO làm nhiệm vụ chính trị. Chính Jack Ma cũng là người của ĐCS Trung Quốc kia mà? Trong cái thành công của Alibaba có bàn tay ĐCS và tất nhiên Alibaba phải làm nhiệm vụ chính trị cho ĐCS Trung Quốc. Với chính quyền Trung Cộng, kinh tế không phải để mang lại chất lượng sống cho nhân dân, mà kinh tế là để lồng ghép nhiệm vụ chính trị.

Tàu đánh cá của Trung Cộng toàn là tàu quân sự trá hình. Ngư dân Trung Quốc được phát tàu đi biển để làm nhiệm vụ cho ĐCS Trung Quốc. Đó là mô hình lồng ghép, nhiệm vụ chính trị ẩn mình trong vỏ bọc kinh tế. Các tập đoàn kinh tế mạnh của Trung Quốc cũng không ngoại lệ. Nó cũng làm nhiệm vụ chính trị. Không phải ngẫu nhiên mà tổng thống Trump mạnh tay với các doanh nghiệp Trung Cộng. Mỹ họ biết rõ, đó là các ổ gián điệp đang hoạt động rất mạnh. Một lãnh đạo Huawei ở Canada bị bắt vì tội làm gián điệp. Vậy mà Huawei đã thọc rất sâu vào thị trường viễn thông Việt Nam qua vỏ bọc Viettel. Và ở Việt Nam, không phát hiện được cá nhân nào làm gián điệp cả. Điều này chứng tỏ chính trị Việt Nam không còn sức kháng cự với gián điệp Trung Cộng nữa.

Dạo này, các doanh nghiệp Việt Nam lớn như thánh gióng. Nó lớn còn nhanh hơn các tập đoàn đa quốc gia lừng danh thế giới. Nó đến đâu thì lấy đất vàng đến đấy, và thậm chí chính quyền tỉnh còn ứng tiền cho nó làm. Nếu không có luồng tài chính bí mật thổi vào bụng thì nó không thể lớn mạnh và uy quyền đến như vậy. Trong đó, tôi tin là có luồng tài chính bất minh từ thế lực rất mạnh của ngoại bang bơm vào. Một ngày nào đó, những doanh nghiệp ấy đồng loạt tuyên bố đổi chủ thì nền kinh tế Việt Nam sẽ nằm gọn trong tay ngoại bang. Lúc đó nhiệm vụ chính trị các CEO Trung Cộng hoàn thành.

Hôm nay, chính quyền CS khống chế bao tử nhân dân Việt, thì nếu quyền ấy trao cho ngoại bang thì sao? Thì xem như mất nước. Chưa có thời nào mà doanh nghiệp Trung Cộng lộng hành như thời này. Chưa có thời nào mà cả chính quyền CSVN sợ doanh nghiệp Trung Cộng như thời này. Chính quyền mà sợ doanh nghiệp? Chuyện tưởng như phi lí nhưng thực tế là vậy. Điều đó chứng tỏ trong tập đoàn kinh tế Trung Quốc có quyền lực chính trị trong đó. Chỉ có lồng ghép quyền lực chính trị mới làm cho một tập đoàn chính trị khác phải sợ. Đến Mỹ mà Trung Cộng còn tung các nhà khoa học và các CEO làm gián điệp bủa vây nước Mỹ thì Việt Nam là cái thá gì? Nó nuốt dễ như ăn kẹo. Việt Nam đã vô miệng, khó thoát.

Dân tộc Nam Việt

Nhóm Nam Việt cũng như Mân Việt và Đông Việt là một trong nhiều nhóm Việt tộc. Nó mang tên Nam Việt có lẽ tự khi nó có mặt ở miền Nam bộ Trung Hoa cùng thời với các nhóm trên đây, rồi sau này dưới đời Tần, Triệu Đà chinh phục được nhóm Nam Việt và Âu Lạc lập thành một đế quốc ở miền Đông Nam Á Châu và tự xưng Đế. Chính đạo quân thứ tư trong năm đạo quân Tần đã ở phía Nam Dự Chương do đường Đại Du (nay là đèo Mai Lĩnh) tiến vào Quảng Đông là lĩnh thổ của nhóm Nam Việt? Có lẽ đạo quân thứ 5 sau khi chiếm được Đông Việt và Mân Việt đã theo đường bể do đèo Yết Dương tấn công vào Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay). Đạo thứ nhất, thứ nhì, thứ ba tiến vào phía Bắc Quảng Tây và Tây Bắc Quảng Đông không gặp sức kháng chiến nào đáng kể. Nhưng ít lâu sau họ bị người Tây Âu chống trả kịch liệt ở miền Quảng Tây, vì vấn đề tiếp tế khó khăn do đường xá xa xôi, vì do khí hậu quá độc nên luôn trong ba năm đoàn quân viễn chinh của nhà Tần bị khốn đốn và hao mòn vô kể. (Xin coi việc kháng chiến của Tây Âu ở đoạn dưới đây). Bị ngừng lại, nhà Tần thiết lập bộ máy cai trị ở các nơi đã chiếm được như ở Đông Việt và Mân Việt -- Quảng Đông và Quảng Tây thành ra ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Năm 214 việc đặt Quận, huyện thành tựu, nhà Tần cử Nhâm Ngao làm Đô Úy quận Nam Hải và Triệu Đà làm Huyện Lệnh Long Xuyên (Huyện thuộc Quận). Đến khi Trung Quốc có loạn, chư hầu nổi lên đánh đổ nhà Tần, nhà Hán ra đời thì Triệu Đà xưng Đế ở Nam Việt, chiếm địa phương này làm của riêng trong một giai đoạn nhưng sau cũng thần phục nhà Hán. Sau này Triệu Đà chết đi, các con cháu kế nghiệp bất tài, nhà Hán liền chiếm hẳn Nam Việt. Âu Lạc bấy giờ nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Nam Việt cũng nhào theo. Rồi Nam Việt cũng bị chia làm quận huyện. Tuy dân Nam Việt không bị cưỡng bức di cư như Đông Việt và Mân Việt để đồng hóa với Hán tộc, nhưng từ đời nhà Tần họ ăn chung ở lộn với mấy vạn quân Nam chinh và một vạn năm ngàn phụ nữ Hán mà Triệu Đà được nhà Tần cấp cho để giữ việc may vá cho quân lính nên ngay từ thời Nam Việt còn thịnh đạt đã có sự pha trộn giữa hai dân tộc Hán Việt...

Một điều đáng chú ý là sau khi nước Việt bị diệt, nhiều nhóm tàn dân U Việt đã chạy xuống các miền Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến tụ họp với những người đồng tộc là Mân Việt và Đông Âu Đã di cư từ trước. Họ có trình độ văn hóa cao nên khi hợp với các thị tộc chiếm đóng miền Nam trước họ thì họ đem đến đó một hình thức chính trị kinh tế cao hơn. Những nhà quý tộc của họ họp thành những bộ lạc lớn mà tự xưng vương. Ngay từ khi họ còn sinh tụ tại miền Chiết Giang cho tới lúc họ tản mác dần xuống miền Đông Nam Trung Quốc.

Để có một nhận định rõ rệt về mối liên hệ giữa người Việt Nam chúng ta ngày nay và các nhóm đồng tộc trên đây, chúng tôi xin trình bầy các đặc tính văn hóa của người Bách Việt sau khi đã nói về U Việt cũng cùng về một vấn đề. Căn cứ vào những tài liệu rải rác ở các cổ sử như Sử ký. Hán Thư và nhất là tác phẩm của Hoài Nam vương Lưu An là người Hán sơ sinh trưởng ở miền tiếp cận của Bách Việt thì biết rằng người Việt xưa kia sống một cách rất đơn giản. Họ không có thành quách, thôn ấp. Họ ở trong các vùng rừng núi, bờ lau, khe suối. Họ rất thạo thủy chiến, rất quen dùng thuyền, ở trên cạn ít mà ở dưới nước nhiều. Họ cắt tóc, xâm mình, đóng khố ngắn để tiện bơi lội, tay áo cộc để tiện chèo thuyền. Ở đảo Hải Nam cũng là nơi thuộc địa bàn của người Bách Việt, theo sách Hán Thư đàn ông cầy ruộng trồng lúa nếp, lúa tẻ, đay và gai. Đàn bà trồng dâu nuôi tầm. Có lẽ ở miền đồng bằng trong lưu vực sông Tây Giang miền Quảng Đông và Quảng Tây người Bách Việt cũng làm ruộng theo kỹ thuật thô sơ như dân Hải Nam vậy.

Người Bách Việt đã biết nuôi gia súc như bò, dê, lợn, gà, chó. Họ có các sản vật quý giá như: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, trân châu, ngọc đỏ, bạc, đồng, trái cây (quả nhãn, quả vải) vải gai. Hẳn họ cũng biết kỹ thuật đồ đồng như người Ngô Việt nhưng chắc không tinh bằng dân Ngô Việt. Họ ít giao thông bằng đường bộ nên không dùng ngựa. Họ không giỏi thương mại nhưng vì có nhiều sản phẩm nên hay giao dịch với người Trung Quốc tại Quảng Đông, Hợp Phố, Tư Văn và Phiên Ngung một thời đã trở nên nơi đô hội lớn.

Về kiến trúc họ chưa có gì đáng kể vì chỉ ở nhà sàn, nhà gác bằng tre và gỗ, vì ngay như thành trì để phòng ngừa quân địch họ cũng không có như người nước Việt trong thời cường thịnh. Họ chỉ nhờ thế rừng núi hiểm trở để tự vệ thôi.

Về văn hóa tinh thần, họ cũng không khác người nước Việt mấy và người Hán cũng cho họ là khinh bạc và hiếu chiến. Họ vẫn còn sống theo chế độ thị tộc. Có lẽ riêng nhóm Đông Âu và Mân Việt đã tiến bộ hơn và đã tiến qua chế độ gia tộc. Về chính trị có lẽ họ ở giữa chế độ bộ lạc và phong kiến.

Dân tộc Bách Việt

Bách Việt

Căn cứ vào các sử sách của Tàu trong đời nhà Chu, ta thấy Bách Việt có mặt ở lưu vực sông Dương Tử rồi sau này tản mác khắp miền Nam bộ Trung Hoa. Nói là Bách Việt, người ta căn cứ vào thuyết truyền kỳ về Lạc Long Quân kết duyên cùng Bà Âu Cơ sinh ra trăm con trai. Sự thực, về thời thượng cổ giống Bách Việt có nhiều nhóm, nhiều bộ lạc sinh sống rời rạc như các dân tộc thiểu số ngày nay tại miền Thượng du. Đến đời nhà Chu, các bộ lạc này đi dần đến chỗ thống nhất do những biến thiên của Lịch sử các bộ lạc nhỏ dần bị các bộ lạc lớn kiêm tính và họp lại thành năm nhóm lớn sau đây đã đạt đến hình thức quốc gia là: Đông Việt hay Đông Âu, Mân Việt, Nam Việt, Tây Việt hay Tây Âu và Lạc Việt. Sau này ba nhóm trên bị đồng hóa theo Hán tộc, còn lại trên lịch sử đến ngày nay là nhóm Tây Âu và Lạc Việt.

Vào thế kỷ thứ 9, một số thị tộc người Việt ở Chiết Giang có lẽ có quan hệ với những phần tử Việt tộc ở Nam bộ Trung Hoa và đối với Lịch sử của chúng ta là người Việt Nam ngày nay nữa. Họ lập thành nước Việt do một nhà quý tộc họ Mị thuộc về thị tộc Mị cùng họ với vua nước Sở. Buổi đầu tiên trên bốn thế kỷ trước đời Câu Tiễn, nước Việt chỉ là một nước phụ dung của nước Ngô, một nước lớn ở lưu vực sông Giang và sông Hoài. Cuối thế kỷ thứ 6 vua nước Ngô là Hạp Lư giận vua nước Việt là Doãn Thường không theo mình đi đánh nước Sở nên đem binh đánh nước Việt, thắng Doãn Thường ở Tuy Lý (phủ Gia Hưng). Doãn Thường chết, con là Câu Tiễn đem quân quyết tử trả thù giết được Hạp Lư. Cháu Hạp Lư là Phù Sai, cũng trả thù cho ông, diệt được nước Việt. Sau này Câu Tiễn nhờ được bề tôi giỏi là Văn Chủng và Phạm Lãi khôi phục được nước Việt, phá được Ngô, xưng bá miền Giang Hoài (năm 402). Ngôi bá chủ này, con cháu Câu Tiễn còn giữ được ba đời nữa, đến đời thứ 4 thì thất bại ở Giang Đông. Bốn mươi tám năm sau đời Câu Tiễn thì nước Việt suy. Bốn mươi sáu năm sau nữa, nước Việt bị Sở thôn tính.

Trong lịch sử 600 năm của nước Việt, Câu Tiễn đã là người anh hùng làm nước Việt nhỏ bé bán khai ở miền Giang Nam nổi lên thành một nước mạnh tung hoành non một thế kỷ ở một phương, mở rộng cương vực choán một phần lớn tỉnh Chiết Giang về phía Nam, và một phần lớn tỉnh Giang Tây về phía Bắc, tuy miền Giang Tây chỉ là phạm vi thế lực.

Trạng thái sinh hoạt vật chất của nước Việt đại khái như sau đây: cũng như người nước Ngô, người Việt vẫn sinh nhai bằng nghề đánh cá là nghề chính. Nông nghiệp của họ chưa phát đạt vì đất xấu, kỹ thuật canh tác còn thô sơ, lại chưa biết dùng cầy bừa và trâu bò. Có lẽ người Việt chỉ trồng được lúa nếp ở trên các khoảng đất cao và ăn trọng yếu là tôm cá, sò hến.

Về y phục, người Việt dệt bằng sợi gai hay đay, và biết dệt vải hoa như người Mường, Thổ là một thứ sản phẩm rất được người Hán ham chuộng. Người Việt biết pha đồng và thiếc để làm binh khí. Người ta đào được ở Chiết Giang những đồ đồng như đinh ba chân, đao, thương, dao găm, mũi giáo, chuông nhỏ, chuông lớn, nhất là thứ kiếm đồng hai lưỡi là vật quý báu ở đời Xuân Thu.

Họ sinh hoạt dưới nước nhiều hơn là ở trên cạn nên bơi lội rất giỏi, biết làm các thứ thuyền nhỏ là Linh và thứ thuyền nhỏ dài là Đĩnh, thuyền lớn gọi là Tụ lự, thuyền có lầu tức là Lâu thuyền và thứ thuyền có gắn mũi qua tức là Qua thuyền. Ba thứ thuyền sau là thuyền chiến. Các sách chép: người Việt rất sở trường về thủy chiến (Điều này làm ta nhận thấy dân tộc Việt Nam quả có tài chiến đấu đặc biệt về mặt thủy trong các cuộc xung đột với Trung quốc từ 20 thế kỷ nay).

Về kiến trúc, hình như họ ở nhà sàn bằng tre và gỗ, tuy họ biết xây mộ và thành bằng đá và gạch. Việt Tuyệt Thư chép: nước Việt có rất nhiều thành và lăng mộ, còn di tích đến đời Hậu Hán.

Về văn hóa, tinh thần của người Việt chúng ta chưa được nhiều tài liệu để xét đoán, về ngôn ngữ chẳng hạn. Ta chỉ biết rằng tiếng nói của người Việt khác với tiếng nói của người Hán nhiều, thường một tiếng Việt phải phiên âm bằng hai ba tiếng Hán.

Về phong tục thì có tục xâm mình, cắt tóc là đặc tục của toàn thể Việt tộc. Họ còn tục khắc cánh tay để ăn thề, khác với tục xâm mình có ý nghĩa "Tô Tem" . Họ thờ quỷ thần, tin điều họa phúc, chuộng phù pháp, thờ người chết rất thành kính. Các nhà quý tộc xây mộ bằng đá và bằng gạch lớn, bỏ đồ binh khí bằng đá, đất hay đồng, vào áo quan để người chết có các thức dùng.

Xét các đồ đồng và đồ gốm khai quật được ở Chiết Giang, các nhà khảo cổ buộc các nghệ thuật của các đồ ấy vào một nghệ thuật lớn gọi là nghệ thuật Đông Sơn, có nhiều đặc điểm tương tự với nghệ thuật đời chiến quốc ở miền sông Hoài. Những đặc điểm ấy là hình trôn ốc cập đôi và hình giây bện. Ông Đào Duy Anh cho rằng nghệ thuật ấy chính ở miền Ngô Việt lúc thịnh thời đã có rồi. Sau đó sự xúc tiếp với người Hán ở miền Bắc, nghệ thuật đó có ảnh hưởng đến nghệ thuật Chu Mạt hay Chiến Quốc và do sự di cư của Việt Tộc xuống miền Nam thành nghệ thuật Đông Sơn.

Về tính tình, người Hán cho người Man Di (Việt) có tính khinh bạc, hiếu chiến, sắc sảo về việc binh, không sợ chết. Việt Tuyệt Thư viết: Họ ở núi mà đi đường thủy lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa, đến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Sử ký chép: Vì dễ kiếm ăn, họ không lo xa, dành dụm, bon chen. Tóm lại người Hán có ý ghê sợ tinh thần quật cường của Việt tộc, luôn luôn chống trả kịch liệt các cuộc xâm lăng của họ, ngoài ra người Việt lại thường hoài vọng phát triển về miền Bắc nữa. Đáng chú ý là cái tinh thần bất úy tử của người Việt mà Câu Tiễn trong khi đánh Ngô, đã có dịp phô trương. (Câu Tiễn sai quân đến trước quân Ngô khiêu chiến, la ó om sòm, rồi tự cắt cổ mà chết. Giữa khi quân Ngô ngạc nhiên ngắm cái trò tự sát này, thì quân chủ lực của Việt ập đến).

Về chính trị, nước Việt dưới đời Câu Tiễn đã vượt qua chế độ bộ lạc và thành một quốc gia theo chế độ quân chủ phong kiến. Sau khi đánh được Ngô thì Việt vẫn xưng thần với nhà Chu. Sau một trăm năm cường thịnh, nước Việt lại suy vi. Bao nhiêu chế độ kinh tế, chính trị phỏng theo người Hán lại xụp đổ và người Việt lại trở về chế độ bộ lạc, một phần phiêu lưu về miền Lĩnh Nam, một phần bị đồng hóa với người Hán tộc.

Các nhóm khác là Đông Việt, Mân Việt và Nam Việt là thế nào, ngoài Ư Việt hay Vu Việt mà di chủng hiện còn lưu trên lịch sử là dân tộc Việt Nam do những quan hệ xa gần? Các nhóm này có từ bao giờ, chưa sử gia nào có thể trả lời một cách thỏa đáng, chỉ biết rằng họ đã có mặt ở các miền Nam bộ Trung Quốc đã lâu đời, trước khi nhà Tần đem quân vượt núi Ngũ Lĩnh xuống chinh phục họ. Bấy giờ họ đã thành các quốc gia tuy tổ chức về mọi phương diện chưa được quy củ lắm.

Đây số phận của họ từ triều đại nhà Tần qua triều đại nhà Đông Hán! Năm 218, năm đạo quân Tần gồm những người lưu vong, những rể thừa và lái buôn mở cuộc Nam chinh. Đạo quân thứ năm ngừng lại trên sông Dư Can trong tỉnh Quảng Tây ở phía Nam hồ Phiên Dương phụ trách việc đánh Đông Việt và Mân Việt khi đó còn là những quốc gia mới chớm nở. Hai nhóm này xưa kia thần phục Sở. Sau Trung Quốc rối loạn, họ nhân đó mà giành lấy độc lập.

Đông Việt bấy giờ đóng ở trung tâm điểm miền Vĩnh Gia, thuộc Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang về phía Nam Tâm Môn Loan. Mân Việt ở trung tâm điểm Mân Huyện, thuộc Phúc Châu trong địa hạt Phúc Kiến ngày nay.

Thế quân Tần bấy giờ đang mạnh, việc bình định được Trung Nguyên với cái kết quả rực rỡ huy hoàng của nó khiến hai nhóm Đồng Việt và Mân Việt khiếp sợ, nhờ vậy mà quân Tần thắng nhanh chóng, dễ dàng ngay trong năm đầu. Việc chinh phục xong, Tần hợp hai nước lại làm một, đặt thành quận Mân Trung. Quốc Vương bản xứ hạ xuống làm quân trưởng (tù trưởng) để cai trị dân như cũ.

Đến ít năm sau Tần suy biến, Đông Việt và Mân Việt theo chư hầu đánh Tần rồi lại giúp Hán đánh Sở. Hán Cao Đế năm thứ 5 (202) thưởng công cho tù trưởng Mân Việt là Vô Chu bằng tước Mân Việt vương. Đến Huệ Đế năm thứ 3 (192) chi lại đất Mân Trung cũ mà đặt thêm nước Đông Hải và cũng để đền đáp cho tù trưởng Đông Việt là Dao, Hán phong cho tước Đông Hải vương, đóng đô ở miền Vĩnh Gia.

Sau này Mân Việt và Đông Việt xung đột với nhau đã là cơ hội rất tốt cho sự kiêm tính của nhà Hán. Buổi đầu hai nước nầy thần phục nhà Hán nhưng vẫn nuôi hoài vọng tiến về phương Bắc nếu có dịp thuận tiện cho nên cả hai đã phụ lực cho Ngô Vương Tỵ và Hoài Nam vương trong việc phản Hán. Nhà Hán e ngại Mân Việt hơn hết. Rồi Hán dụ được Đông Việt giết Tỵ mà quay về với mình. Con Tỵ là Tu Câu xin Mân Việt đánh Đông Việt năm thứ ba đời Vũ Đế (138). Đông Việt thế nguy cầu cứu Hán nhưng khi tướng Hán là Nghiêm Trợ xuất binh thì quân Mân Việt đã rút lui về Nam, vì trong nước có loạn; Nghiêm Trợ đến Đông Âu lấy danh nghĩa cứu nạn đói liền dời một phần đông dân Đông Âu về Giang Hoài có ý rút bớt thực lực của Đông Âu để tránh hậu họa sau nầy. Có lẽ một phần dân Đông Âu đã chống lại chính sách này nên theo vua di chuyển xuống miền Nam gần Tuyên Sơn tỉnh Phúc Kiến.

Năm thứ 6 hiệu Kiến Nguyên (135), Mân việt đem quân đánh Nam Việt. Nam Việt cũng cầu cứu nhà Hán -- Vương Khôi được Hán Đế cử đi đánh Mân Việt cùng Hàn An Quốc một do đường Dự Chương, một do đường Cối Kê, nhưng chưa tới cõi Mân thì Mân Việt vì nội loạn phải xin hàng.

Chu Văn An

Chu Văn An(1292 - 1370) tên tự là Linh Triệt, hiệu là Tiêu An, Khang Tiêt, tên thụy là Văn Trinh. Quê xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đời vua Trần Minh Tông, ông làm Tư nghiệp Quốc Tử giám, nổi tiếng uyên bác và cao khiết, đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước, như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh... Thời vua Trần Dục Tông (1341 - 1369), chính sự suy đồi, nịnh thần lũng đoạn, làm nhiều điều sai trái, ông dâng sớ xin chém 7 nịnh thần (Thất trảm sớ) vua không nghe, ông bèn treo ấn từ quan về ở ẩn, dạy học, viết sách tại núi Kiệt Đặc (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Tác phẩm của ông để lại gồm bộ sách Tứ Thư thuyết ước, hai tập thơ Tiều Ân thi tập và Quốc ngữ thi tập. Sau khi mất, ông được thờ trong Văn Miếu Thăng Long, được tôn xưng như "bậc thầy muôn đời của người Việt Nam". Tên ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội.

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

Apocalypse là ai?

Apocalypse

Apocalypse tên thật là En Sabah Nur, được mọi người biết đến là dị nhân(Mutant) đầu tiên trên thế giới. Hắn được sinh ra vào khoảng 5000 năm trước công nguyên ở Ai Cập. Ra đời với làn da xám và một khuôn mặt bíên dạng, Nur bị bộ tộc của mình là Akkaba bỏ lại ở giữa sa mạc nắng cháy khi còn là đứa trẻ sơ sinh. Sau đó, một bộ tộc du mục được gọi là Sandstormers cứu sống.

Nhận ra sức mạnh tiềm ẩn trong cơ thể đứa bé, thủ lĩnh tộc Sandstormers là Baal đã mang nó về nuôi dưỡng và đặt tên là En Sabah Nur (“The First One”) trong sự bí mật.

Vào thời điểm En Sabah Nur thanh niên, có khá nhiều nhóm siêu anh hùng đã thực hiện những chuyến du hành xuyên thời gian đến Ai Cập (như Fantastic Four, West Coast Avengers, Rama-Tut,…) và gặp Nur. Trong số người du hành xuyên thời gian có Rama-Tut thật ra chính là Kẻ Chinh Phục xuyên thời gian Kang, hắn đã quay lại quá khứ để tìm kiếm Apocalypse thời trẻ nhằm khống chế anh ta.

Kang biết rằng Apocalypse, một trong những mutant mạnh nhất từng sống, người có số phận thống trị thế giới sẽ ra đời vào thời Ai Cập cổ đại. Và Kang đã quay ngược thời gian để tìm Apocalypse khi còn là một đứa trẻ, nuôi dạy anh ta, để trở thành chủ nhân của kẻ mạnh nhất hành tinh.

Rama-Tut có ý định sẽ nhường lại ngôi vua của mình cho Nur nếu anh ta thề trung thành với hắn. Khi những toan tính đầu tiên không thành, Rama-Tut quyết định giữ Apocalypse như một nô lệ. Sau đó, En Sabah Nur bị Rama-Tut bắn cũng chính bằng khầu súng hắn đã dùng để chống lại với Fantastic Four. En Sabah Nur một lần nữa vượt qua cái chết, Rama-Tut sau đó cũng trốn mất khi năng lực đột biến của Nur bộc phát.

Sau khi năng lực Apocalypse bộc phát, đối thủ của hắn ta giờ đây chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Hắn chinh phạt và gây chiến tranh suốt chiều dài lịch sử nhân loại, đi từ Ai Cập sang Roma rồi Ba Tư, Mông Cổ. Tại mỗi nơi Apocalypse đi qua, hắn đều để lại chiến tích cùng danh tiếng không thể xóa nhòa.

Có thể nói suốt vài nghìn năm hoạt động Apocalypse thắng nhiều, thua, chết rồi phục sinh cũng không ít. Sau mỗi lần sống lại Apocalypse luôn trở lên mạnh hơn so với trước đó. Sức mạnh của Apocalypse được tăng thêm rất nhiều khi hắn khám phá ra con tàu vũ trụ và liên lạc được với những vị thần không gian Celestial hùng mạnh vào năm 1150 ở Mông Cổ.

Sức mạnh của Apocalypse

Sau khi tiếp xúc với con tàu của Celestial, tất cả sức mạnh của Apocalypse đã vượt xa so với giới hạn thể chất ban đầu của mình. Có thể nói dù phim điện ảnh X-Men có khác thì các đạo diễn cũng sẽ không thay đổi quá nhiều sức mạnh của Apocalypse so với phiên bản trong comic. Những sức mạnh đó bao gồm:

  • Sức mạnh siêu phàm: Apocalypse sở hữu sức mạnh to lớn bằng cách hấp thu thêm các nguồn năng lượng từ bên ngoài (Apocalypse đã khống chế và tách Hulk ra khỏi cơ thể của Banner khiến cho anh ta suy yếu và đánh bại anh ta).
  • Cơ thể bất hoại: Khả năng chống chấn thương của Apocalypse phải nói là rất cao. Với những thay đổi mà Celestial đã làm, cơ thể của Apocalypse có khả năng chống được các đòn tấn công vật lý có sức sát thương cực lớn (cỡ của Hulk … muỗi) tuy nhiên tùy từng thời điểm, có thời điểm Apocalypse không thể chịu nổi 1 tiếng thì thầm của Black Bolt
  • Bay: Apocalypse có khả năng bay bằng cánh chuyển đổi một phần năng lượng của mình vào cách tay và phóng đi (giống một chiếc máy bay), hoặc thông qua việc dịch chuyển đồ vật bằng ý nghĩ (ví dụ như Apocalypse có thể đứng trên một tấn ván và dịch chuyển tấm ván đó bay vào trong không trung)
  • Dịch chuyển tức thời: Apocalypse có thể dịch chuyển bản thân (hoặc người khác) đến bất cứ đâu trên khắp hành tinh.
  • Thay đổi phân tử sinh học: Apocalypse có thể kiểm soát cấu trúc phân tử của cơ thể mình và thay đổi nó theo ý muốn. Có nghĩa là Apocalypse có thể thay đổi cơ thể mình để có thể chịu được hoặc thích nghi với mọi hoàn cảnh môi trường bao gồm cả uốn dẻo phóng to thu nhỏ.
  • Khống chế năng lượng: Hấp thụ năng lượng: Khả năng hấp thụ thêm năng lượng để làm tăng mức độ át thương và đòn tấn công của mình. Apocalypse có thể tăng tốc độ cho khả năng phản xạ và thời gian để thực hiện nó. Apocalypse có khẳ năng tạo một trường lực bao bọc xung quanh cơ thể mình. Apocalypse có thể dự ứng được khả năng và mức độ phá hoại của đòn tấn công mà mình định sử dụng để từ đó tấn công đối phương một cách nhanh nhất mà không mất thời gian.
  • Dịch chuyển vật thể: Apocalypse sở hữu sức mạnh ngoại cảm cực lớn cho phép ông ta có thể làm cho bản thân mình hoặc người khác bay lên bằng ý nghĩ dưới bất kì hình thức nào.
  • Bất tử: Ban đầu cơ thể của Apocalypse được xem như là bất tử, ngay cả trước khi được Celestial sửa đổi thi Apocalypse cũng đã sống được hàng ngàn năm. Apocalypse có thể đi vào trạng thái hôn mê (kiểu như ngủ đông), trong thời gian đó, cơ thể của ông sẽ phục hồi bất kì một vết thương nào (dù nặng hoặc nhẹ) với sự hỗ trợ của công nghệ trên tàu Celestial. Chỉ cần với một giọt máu cũng có thể viết lại được mã di truyền và tạo nên một cơ thể nhân bản mới của Apocalypse
  • Là một thiên tài phi thường, có kiến thức về sinh học (chủ yếu là di truyền và đột biến) và công nghệ khoa học của thời hiện đại.